Tại Việt Nam, việc xây dựng và phát triển nguồn điện hạt nhân (ĐHN) là yêu cầu khách quan và tất yếu. Trong vòng 2 thập niên tới, nước ta dự kiến phải phát triển gấp 7-8 lần khả năng cung cấp điện hiện có để đảm bảo nhu cầu điện cho nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là phải xây dựng mới trên 60.000MW với nhu cầu vốn đầu tư hàng trăm tỉ USD.
Về vấn đề ĐHN, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân đã từng chia sẻ trong buổi đối thoại trực tuyến vào đầu tháng 5/2012: “Dầu mỏ hiện nay của Việt Nam mới đáp ứng nửa nhu cầu, vẫn phải nhập khẩu. Than trong quá khứ xuất khẩu với tốc độ rất nhanh, nhưng từ năm 2011 bắt đầu phải nhập khẩu than, đến năm 2020 lượng than nhập khẩu còn lớn hơn lượng than sản xuất ra”.
Nhà máy điện hạt nhân của Việt Nam sẽ lựa chọn công nghệ phản ứng APWR để đảm bảo an toàn cho vận hành và sử dụng
Và theo người đứng đầu Bộ Khoa học và Công nghệ, các nguồn năng lượng gió, mặt trời, sóng biển, địa nhiệt được phát triển, song các nhà máy sử dụng năng lượng tái tạo quy mô rất nhỏ, giá thành cao, người dân sẽ không chịu được giá của nhà máy điện gió hay năng lượng mặt trời.
Nhiều nghiên cứu về giá thành sản xuất điện của Pháp, Phần Lan, Mỹ, Nhật Bản đều đi đến kết luận, giá thành ĐHN là thấp hơn so với giá thành sản xuất điện bằng khí, than hoặc dầu từ 10-20%, phụ thuộc vào các điều kiện xây dựng và vận hành, kể cả khi tính đến chi phí cho tháo dỡ, cho bảo hiểm và dự phòng cho xử lý chất thải. Đặc biệt trong điều kiện giá nhiên liệu than, dầu và khí ngày càng tăng nhanh thì giá thành sản xuất ĐHN lại càng trở nên cạnh tranh cao hơn và sẽ là một sự lựa chọn kinh tế.
Vấn đề biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường đang được thế giới quan tâm cũng có vai trò làm tăng ưu thế cạnh tranh của ĐHN. Nhà máy ĐHN thường được sử dụng để chạy ổn định ở nền phụ tải, có một lợi thế lớn là không phát thải khí CO2, nguyên nhân chính trong vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu. Với một khả năng đánh thuế môi trường và hạn chế khí phát thải bắt buộc sẽ áp dụng cho các nguồn ô nhiễm môi trường như nhà máy phát điện chạy than, dầu, khí, trong tương lai thì nhà máy ĐHN lại càng được khẳng định được lợi thế của mình như một ngành công nghiệp xanh.
Chính phủ Việt Nam cũng rất quan tâm tới việc phát triển ngành năng lượng hạt nhân và đã ban hành rất nhiều văn bản như Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 3/1/2006 phê chuẩn “Chiến lược ứng dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình tới năm 2020”. Ngoài ra, trong Luật Năng lượng nguyên tử; Định hướng quy hoạch phát triển ĐHN đến năm 2020; Quy hoạt phát triển điện lực Quốc gia cho giai đoạn 2011-2020 định hướng đến năm 2030 cũng đưa ra tiền đề để phát triển nguồn năng lượng này.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã lên kế hoạch khởi công xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên của Việt Nam tại tỉnh Ninh Thuận vào năm 2014 và bắt đầu phát điện năm 2020, gồm hai nhà máy có tổng công suất 4.000MW. Dự kiến đến năm 2015 sẽ triển khai tiếp Nhà máy Điện Ninh Thuận 2.
Như vậy, việc phát triển các dự án ĐHN là yêu cầu khách quan, tất yếu và phù hợp với định hướng phát triển năng lượng tại Việt Nam. Tuy vậy, sau thảm họa tại Nhà máy ĐHN Fukushima (Nhật Bản) vào năm 2011, Việt Nam càng cần yêu cầu các đối tác phải nâng mức độ an toàn lên cao hơn và trong quá trình khảo sát địa điểm xây dựng nhà máy cần thận trọng hơn.
Với Việt Nam, một tháng sau khi Quốc hội khóa XII thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án ĐHN Ninh Thuận, trong chuyến thăm Nga của Thủ tướng Chính phủ, Nga đã được chọn làm đối tác cung cấp công nghệ cho Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 và tháng 10-2010, Nhật Bản được chọn làm đối tác để xây dựng Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2.
Cho đến nay, trong ba loại công nghệ được thừa nhận được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất, 61% lò đang vận hành thuộc loại lò nước áp lực – PWR và đa số các lò đang xây dựng hoặc đang có kế hoạch thuộc loại lò nước áp lực cải tiến – APWR.
Với xu thế ấy, việc Việt Nam lựa chọn công nghệ lò nước áp lực cải tiến – APWR sẽ làm cho cơ hội hợp tác và phát triển ĐHN thuận lợi hơn và thực tế, chúng ta đã lựa chọn công nghệ lò APWR loại VVER1000/120 do Nga cung cấp.
Tuy nhiên, việc lựa chọn công nghệ cho các nhà máy ĐHN ở Việt Nam cần đảm bảo an toàn hạt nhân, cần tuân thủ nguyên lý “bảo vệ theo chiều sâu”, dự phòng và đa dạng hóa hệ thống an toàn, có kết hợp an toàn chủ động và thụ động các hệ thống làm mát khẩn cấp, cấp điện khẩn cấp phả có ít nhất 4 hệ độc lập 100% công suất. Ngoài ra cần thiết kế hệ thống độc lập đảm bảo dừng lò an toàn mà không cần nguồn năng lượng và hành động của nhân viên trong 24/72 giờ đầu tiên sau tai nạn nghiêm trọng.
Về đảm bảo an toàn bức xạ, hệ thống nhà máy ĐHN cần thiết kế theo nguyên lý ALARA, khi vận hành bình thường, liều chiếu cá nhân và liều chiếu tập thể phải là tối thiểu và nhỏ hơn mức cho phép, không phát thải hoặc phát thải ít thường xuyên ra môi trường. Bên cạnh đó, khi có tai nạn nghiêm trọng, chỉ cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp tối thiểu trong vòng bán kính 1km từ tâm lò, không yêu cầu sơ tán quá 1 năm đối với dân cư trong bán kính 3km từ tâm lò.
Ngoài ra, yếu tố con người trong việc xây dựng công nghệ cho nhà máy ĐHN cũng rất quan trọng, công nghệ phải đồng bộ với chất lượng con người. Công nghệ không ngừng tiến bộ nhưng không bao giờ hoàn hảo và an toàn tuyệt đối. Bởi vậy, ngoài thiết kế công nghệ, chế tạo thiết bị, việc đảm bảo an toàn phải được thực hiện trong quá trình lựa chọn địa điểm, thi công xây lắp, vận hành bảo dưỡng và tháo dỡ nhà máy khi hết thời gian sử dụng.
Muốn vậy, con người trong ngành hạt nhân phải có kiến thức vững chắc và chuyên môn sâu, phải được đào tạo chính quy, bài bản và luôn luôn phải được đào tạo lại. Năng lực khoa học (R&D) của đất nước phải được ưu tiên tập trung xây dựng, hình thành đội ngũ chuyên gia với các nhóm nghiên cứu mạnh về công nghệ, an toàn… để hỗ trợ xây dựng, vận hành an toàn và kinh tế các nhà máy ĐHN. Đặc biệt, ứng xử của mỗi con người, tổ chức trong lĩnh vực hạt nhân phải là ứng xử theo văn hóa an toàn.
Ngoài các giải pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn, công tác quản lý Nhà nước về an toàn hạt nhân phải được thực thi một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt. Cơ quan pháp quy hạt nhân phải đảm bảo có đủ quyền lực, nhân lực và vật lực, đủ khả năng xây dựng hệ thống pháp quy hạt nhân đầy đủ, chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý Nhà nước về an toàn hạt nhân.
















